Thí nghiệm đi chệch hướng
Vào những năm 1920, một nhà máy lớn muốn tìm hiểu mức ánh sáng nào giúp mọi người làm việc hiệu quả nhất. Đây là một bài toán kỹ thuật rõ ràng: tìm ra mức tối ưu. Họ bắt đầu tăng ánh sáng, và năng suất tăng lên. Mọi thứ có vẻ khớp với nhau.
Sau đó, họ bắt đầu giảm ánh sáng, vì nghĩ rằng năng suất sẽ giảm theo. Thế nhưng năng suất vẫn tiếp tục tăng và duy trì ngay cả khi mức ánh sáng gần như ánh trăng. Lời giải thích mang tính kỹ thuật sụp đổ, và một lời giải thích khác xuất hiện: mọi người làm việc tốt hơn đơn giản vì họ đang được quan sát.
Thí nghiệm đã chứng minh rằng sự chú ý dành cho người lao động tự nó làm tăng năng suất.
Cách diễn đạt này xuất hiện về sau và dựa trên những cơ sở yếu. Khi các ghi chép ban đầu được xem xét lại, người ta nhận ra rằng chỉ có ít nhóm, các điều kiện thay đổi đồng thời với những yếu tố khác, và một phần mức tăng trùng với thời điểm bắt đầu tuần làm việc.
Kết quả của việc phân tích lại
Nhiều thập kỷ sau, các nhà nghiên cứu tìm thấy dữ liệu gốc và tính toán lại kết quả. Họ không phát hiện hiệu ứng nổi tiếng này ở dạng thuần túy. Nhưng họ tìm thấy những cách giải thích khác: các nữ công nhân được chọn vào một nhóm nhỏ riêng, được trả lương theo cách khác, được cho nghỉ giải lao và được trao đổi về những thay đổi.
Ảnh hưởng của việc bị quan sát lên năng suất: dữ liệu ban đầu yếu, các lần tái lập cho kết quả không nhất quán
Điều đó không có nghĩa là bản thân ý tưởng này đã bị gạt bỏ. Việc tham gia một nghiên cứu làm thay đổi hành vi được nhiều lĩnh vực khác xác nhận: mọi người rửa tay thường xuyên hơn khi biết mình đang bị quan sát, và ghi nhật ký chính xác hơn khi có người kiểm tra. Chỉ là nhà máy nổi tiếng kia không chứng minh được điều đó.
Vì sao câu chuyện này vẫn tồn tại
Nó có đủ mọi yếu tố cần thiết để trở thành một câu chuyện dễ nhớ: một bước ngoặt bất ngờ, một thông điệp đơn giản và một kết luận thực tế dành cho người quản lý. Những câu chuyện như vậy được kể lại dễ dàng hơn các phân tích dữ liệu, và chúng có thể tồn tại hàng thập kỷ sau khi đã bị bác bỏ.
Dù vậy, câu chuyện vẫn để lại một điều hữu ích, và đó là một bài học về phương pháp. Bất kỳ phép đo nào trên con người cũng làm thay đổi thứ được đo, và điều này phải được tính đến ngay trong thiết kế nghiên cứu, chứ không phải đến cuối phần thảo luận.
Đọc tiếp trong ứng dụng Miqo
Còn 1 phút nữa, rồi đến bài kiểm tra cuối bài. Tìm trong mục “Tâm lý học → Lười và động lực”
Hướng camera điện thoại vào đây để mở App Store hoặc Google Play.
Nguồn
- Các nghiên cứu tại nhà máy Hawthorne được tiến hành trong giai đoạn 1924-1932. Một phân tích lại các dữ liệu gốc còn lưu giữ, được thực hiện trong giai đoạn 2009-2011, không xác nhận hiệu ứng ở dạng được tuyên bố ban đầu